Bốn tỷ lệ tăng trưởng (P4)


Vốn cổ phần là những gì còn lại của bạn và các con bạn sau khi bọn trẻ bán đi mọi thứ, thanh toán nợ nần, và lấy ra số tiền mặt còn lại. Nếu lũ trẻ quyết định từ bỏ công ty thì tất nhiên chúng sẽ cố gắng bán công ty. Nếu không ai muốn mua công ty, bọn trẻ có thể chỉ bán phần dự trữ đường và chanh và thanh toán mọi khoản nợ nần. Giả sử chúng có trong tay 8.000 đô-la chanh dự trữ, đường, máy làm nước đá, cốc thuỷ tinh và bàn, cộng với 10.000 đô-la tiền mặt và một vài chiếc xe tải trị giá 10.000 đô-la (đây là phần còn lại từ lợi nhuận và từ 12.500 đô-la vốn đầu tư sau khi mua thêm hàng dự trữ và thiết bị).

dau tu

Vì bọn trẻ không nợ ai nên vốn cổ phần sẽ là 28.000 đô-la (8.000 đô-la từ bán hàng trữ, 10.000 đô-la từ bán xe tải, và 10.000 đô-la tiền mặt). Bạn và các con bạn sẽ chia số vốn đó trên cơ sở mỗi cổ phiếu. Vì có 2.000 cổ phiếu và 28.000 đô-la để chia nên mỗi cổ phiếu sẽ được 14 đô-la. 14 đô-la này được gọi là giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS) và 28.000 đô-la được gọi là vốn cổ phần hay giá trị sổ sách. (Một số người gọi là giá trị thanh lý – giá trị của doanh nghiệp khi nó không tồn tại nữa).

Tại sao tăng trưởng vốn cổ phần lại quan trọng đến vậy? Một số học viên của tôi hỏi tôi câu hỏi này và muốn biết tại sao nếu vốn cổ phần chỉ thực sự là một “giá trị thặng dư” thì tỷ lệ tăng trưởng cổ phần lại là một chỉ số tốt để đánh giá sức mạnh của một công ty. Vậy, nếu vốn cổ phần (“số thặng dư”) của một doanh nghiệp không tăng thì doanh nghiệp đó sẽ không có kinh phí mở rộng thị trường hay phát triển sản phẩm mới. Tiền lãi có thể chỉ được chuyển trở lại để duy trì doanh nghiệp – ví dụ, để xây dựng các nhà máy chế tạo mới (những nhà máy có thể trở nên vô giá trị trong vòng năm năm). Hoặc có thể công ty đang theo đuổi chiến lược “tăng trưởng vì mục tiêu tăng trưởng”. Loại tăng trưởng không có mục đích như vậy thường được nhận biết thông qua tỷ lệ ROIC rất thấp, hay nói cách khác, khi đó chúng ta, những nhà đầu tư Quy tắc số 1 – đang bị lợi dụng.

Bản thân số liệu thô này không có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định giá trị bởi vì các doanh nghiệp với nhiều bất động sản và máy móc, chẳng hạn như Mc Donald, có thể có vốn cổ phần tương xứng với giá trị của công ty, trong khi đó có những công ty chỉ có tài sản trí tuệ, như Google, thì vốn cổ phần có thể nhỏ hơn so với giá trị của công ty này. Nói cách khác, các con số về vốn cổ phần rất khác nhau khi bạn so sánh một doanh nghiệp sản xuất với một doanh nghiệp kinh doanh tri thức. Nhưng tỷ lệ tăng trưởng của vốn cổ phần có thể bằng nhau và rất quan trọng. Nó cho chúng ta biết doanh nghiệp có thể tích luỹ giá trị thặng dư, và tự thân doanh nghiệp đó có làm cho mình trở nên khác biệt. Vì vậy, chỉ riêng vốn cổ phần sẽ gần như không được như tỷ lệ tăng trưởng của vốn cổ phần, và điều này lý giải vì sao chúng ta tập trung vào tỷ lệ tăng trưởng nhiều hơn vào các con số tuyệt đối.

Chuyên mục:Kiến thức

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s